Open Book
Bìa Những điều Mặt Trăng thấy và các truyện khác (tranh: A. W. Bayes)

Open Book › Đọc thử song ngữ

Những điều Mặt Trăng thấy và các truyện khác (What the Moon Saw and Other Tales): đọc song ngữ

Hans Christian Andersen (bản tiếng Anh của H. W. Dulcken, 1866) · 1866 · Trình độ B1 (trung cấp) theo app Open Book · miễn phí trong app

Ba mươi hai tối Mặt Trăng kể cho một họa sĩ nghèo những gì ông thấy, cùng bốn mươi bảy truyện khác của Andersen, từ truyện ngắn vài trang đến truyện dài nhiều phần. Tiếng Anh thế kỷ 19, giọng kể ấm và giản dị.

Preface.

Lời tựa

The present book is put forth as a sequel to the volume of Hans C. Andersen's "Stories and Tales," published in a similar form in the course of 1864. It contains tales and sketches various in character; and following, as it does, an earlier volume, care has been taken to intersperse with the children's tales stories which, by their graver character and deeper meaning, are calculated to interest those "children of a larger growth" who can find instruction as well as amusement in the play of fancy and imagination, though the realm be that of fiction, and the instruction be conveyed in a simple form.

Cuốn sách này là phần nối tiếp tập Stories and Tales của Hans C. Andersen, xuất bản năm 1864 theo một hình thức tương tự. Sách gồm nhiều câu chuyện và ký họa mang sắc thái đa dạng; và vì đây là tập nối tiếp, người làm sách đã chú ý xen giữa các truyện thiếu nhi những truyện nghiêm trang hơn, ý nghĩa sâu hơn, nhằm thu hút “những đứa trẻ đã lớn”: những người tìm thấy cả bài học lẫn niềm vui trong trò chơi của trí tưởng tượng, dù đó là thế giới truyện kể và bài học được nói bằng lời lẽ giản dị.

The series of sketches of "What the Moon Saw," with which the present volume opens, arose from the experiences of Andersen, when as a youth he went to seek his fortune in the capital of his native land; and the story entitled "Under the Willow Tree" is said likewise to have its foundation in fact; indeed, it seems redolent of the truth of that natural human love and suffering which is so truly said to "make the whole world kin."

Chuỗi ký họa “Những điều Mặt Trăng thấy” mở đầu tập sách bắt nguồn từ chính trải nghiệm của Andersen thời thanh niên khi lên thủ đô nước mình tìm kiếm vận may; còn câu chuyện mang tựa đề “Dưới gốc liễu” nghe đâu cũng dựa trên chuyện có thật; quả thực, truyện như thấm đượm cái thật của tình yêu và nỗi đau khổ tự nhiên nơi con người, điều mà người ta nói rất đúng là “khiến cả thế gian thành người một nhà”.

On the preparation and embellishment of the book, the same care and attention have been lavished as on the preceding volume. The pencil of Mr. Bayes and the graver of the Brothers Dalziel have again been employed in the work of illustration; and it is hoped that the favour bestowed by the public on the former volume may be extended to this its successor.

Khâu chuẩn bị và trình bày cuốn sách cũng được chăm chút chu đáo như tập trước. Nét vẽ của ông Bayes và lưỡi khắc của anh em nhà Dalziel lại một lần nữa đảm nhiệm phần minh họa; và chúng tôi hy vọng công chúng từng đón nhận tập trước thế nào thì cũng sẽ đón nhận tập tiếp nối này như thế.

H. W. D.

H. W. D.

What the Moon Saw.

Những điều Mặt Trăng thấy

Introduction.

Mở đầu

It is a strange thing, that when I feel most fervently and most deeply, my hands and my tongue seem alike tied, so that I cannot rightly describe or accurately portray the thoughts that are rising within me; and yet I am a painter: my eye tells me as much as that, and all my friends who have seen my sketches and fancies say the same.

Thật lạ lùng là những lúc thấy lòng tha thiết và sâu lắng nhất, tay và lưỡi tôi dường như đều bị trói lại, khiến tôi chẳng sao kể cho đúng hay vẽ lại cho trúng những suy nghĩ đang cuộn trào trong mình; ấy thế mà tôi lại là một họa sĩ: đôi mắt mách bảo tôi điều đó, và bạn bè tôi, ai từng xem những bức phác thảo hay những nét vẽ ngẫu hứng của tôi, cũng đều nói thế.

Tranh minh hoạ của A. W. Bayes
Tranh: A. W. Bayes

I am a poor lad, and live in one of the narrowest of lanes; but I do not want for light, as my room is high up in the house, with an extensive prospect over the neighbouring roofs. During the first few days I went to live in the town, I felt low-spirited and solitary enough. Instead of the forest and the green hills of former days, I had here only a forest of chimney-pots to look out upon. And then I had not a single friend; not one familiar face greeted me.

Tôi là một chàng trai nghèo, sống trong một con ngõ hẹp vào bậc nhất; nhưng phòng tôi không hề thiếu ánh sáng, vì nằm tít trên tầng cao, nhìn ra khoảng không khoáng đạt phía trên những mái nhà xung quanh. Mấy ngày đầu mới lên thành phố sống, tôi thấy buồn bã và cô đơn lắm. Thay cho rừng cây và những ngọn đồi xanh ngát ngày trước, ở đây phóng tầm mắt ra tôi chỉ thấy một rừng ống khói. Đã vậy tôi lại chẳng có lấy một người bạn; không một gương mặt thân quen nào đón chào tôi.

So one evening I sat at the window, in a desponding mood; and presently I opened the casement and looked out. Oh, how my heart leaped up with joy! Here was a well-known face at last—a round, friendly countenance, the face of a good friend I had known at home. In, fact it was the Moon that looked in upon me. He was quite unchanged, the dear old Moon, and had the same face exactly that he used to show when he peered down upon me through the willow trees on the moor. I kissed my hand to him over and over again, as he shone far into my little room; and he, for his part, promised me that every evening, when he came abroad, he would look in upon me for a few moments. This promise he has faithfully kept. It is a pity that he can only stay such a short time when he comes. Whenever he appears, he tells me of one thing or another that he has seen on the previous night, or on that same evening. "Just paint the scenes I describe to you"—this is what he said to me—"and you will have a very pretty picture-book." I have followed his injunction for many evenings. I could make up a new "Thousand and One Nights," in my own way, out of these pictures, but the number might be too great, after all. The pictures I have here given have not been chosen at random, but follow in their proper order, just as they were described to me. Some great gifted painter, or some poet or musician, may make something more of them if he likes; what I have given here are only hasty sketches, hurriedly put upon the paper, with some of my own thoughts interspersed; for the Moon did not come to me every evening—a cloud sometimes hid his face from me.

Thế là một buổi tối nọ, tôi ngồi bên cửa sổ, lòng trĩu buồn; rồi tôi mở toang cánh cửa và nhìn ra ngoài. Ôi, tim tôi nhảy lên vì vui sướng! Cuối cùng thì cũng có một gương mặt thân quen: một khuôn mặt tròn trĩnh, đôn hậu, gương mặt của người bạn tốt mà tôi từng biết ở quê nhà. Thật ra đó chính là Mặt Trăng đang ghé mắt nhìn tôi. Ông chẳng hề thay đổi chút nào, ông Mặt Trăng già thân mến, gương mặt vẫn y nguyên như những lần ông ngó xuống tôi qua rặng liễu ngoài đồng hoang. Tôi gửi bao nụ hôn gió về phía ông, khi ánh sáng của ông rọi sâu vào căn phòng nhỏ; còn ông thì hứa rằng mỗi tối, khi dạo bước trên trời, ông sẽ ghé thăm tôi chốc lát. Lời hứa ấy ông giữ trọn bấy lâu. Thật tiếc là mỗi lần đến, ông chỉ nán lại được đôi chút. Hễ xuất hiện là ông lại kể cho tôi nghe chuyện nọ chuyện kia mà ông trông thấy đêm trước, hoặc ngay trong buổi tối hôm ấy. “Cứ vẽ lại những cảnh ta tả cho cậu,” ông bảo tôi thế, “rồi cậu sẽ có một cuốn sách tranh tuyệt đẹp.” Tôi đã làm theo lời dặn của ông suốt nhiều tối. Từ những bức vẽ này, tôi có thể tạo nên một bộ “Nghìn lẻ một đêm” mới theo cách của riêng mình, nhưng tính ra thì số tranh có lẽ sẽ quá nhiều mất. Những bức tranh tôi đưa ra ở đây chẳng phải chọn bừa, mà theo đúng thứ tự Mặt Trăng đã tả cho tôi. Một danh họa tài ba, hay một nhà thơ, một nhạc sĩ nào đó, nếu muốn, có thể dựa vào đó mà làm nên một cái gì hơn thế; những gì tôi ghi lại ở đây chỉ là các bức phác thảo vội, ghi vội lên giấy, có xen đôi chút suy nghĩ của riêng tôi; bởi Mặt Trăng đâu phải tối nào cũng đến, đôi khi một áng mây lại che khuất mặt ông.

First Evening.

Tối thứ nhất

"Last night"—I am quoting the Moon's own words—"last night I was gliding through the cloudless Indian sky. My face was mirrored in the waters of the Ganges, and my beams strove to pierce through the thick intertwining boughs of the bananas, arching beneath me like the tortoise's shell. Forth from the thicket tripped a Hindoo maid, light as a gazelle, beautiful as Eve. Airy and ethereal as a vision, and yet sharply defined amid the surrounding shadows, stood this daughter of Hindostan: I could read on her delicate brow the thought that had brought her hither. The thorny creeping plants tore her sandals, but for all that she came rapidly forward. The deer that had come down to the river to quench their thirst, sprang by with a startled bound, for in her hand the maiden bore a lighted lamp. I could see the blood in her delicate finger tips, as she spread them for a screen before the dancing flame. She came down to the stream, and set the lamp upon the water, and let it float away. The flame flickered to and fro, and seemed ready to expire; but still the lamp burned on, and the girl's black sparkling eyes, half veiled behind their long silken lashes, followed it with a gaze of earnest intensity. She knew that if the lamp continued to burn so long as she could keep it in sight, her betrothed was still alive; but if the lamp was suddenly extinguished, he was dead. And the lamp burned bravely on, and she fell on her knees, and prayed. Near her in the grass lay a speckled snake, but she heeded it not—she thought only of Bramah and of her betrothed. 'He lives!' she shouted joyfully, 'he lives!' And from the mountains the echo came back upon her, 'he lives!'"

“Đêm qua,” tôi xin chép đúng lời Mặt Trăng, “đêm qua ta lướt qua bầu trời Ấn Độ không một gợn mây. Mặt ta soi bóng trên dòng nước sông Hằng, và những tia sáng của ta cố xuyên qua cành lá rậm rạp đan ken của rặng chuối, uốn cong bên dưới ta như mai rùa. Từ trong bụi rậm, một cô gái Ấn Độ bước nhanh ra, nhẹ nhàng như linh dương, đẹp tựa nàng Eve. Thanh thoát và mong manh tựa ảo ảnh, nhưng vẫn hiện rõ nét giữa những bóng tối vây quanh, người con gái Ấn Độ đứng đó: ta có thể đọc được trên vầng trán thanh tú của nàng ý nghĩ đã dẫn nàng tới đây. Dây leo đầy gai cào rách đôi dép của nàng, nhưng nàng vẫn rảo bước tiến tới. Lũ hươu xuống sông uống nước giật mình nhảy vụt qua, bởi thiếu nữ cầm trên tay một ngọn đèn đang cháy. Ta thấy cả màu máu ửng hồng nơi đầu những ngón tay thanh mảnh của nàng, khi nàng xòe tay ra che ngọn lửa đang nhảy múa. Nàng bước xuống mé nước, đặt ngọn đèn lên dòng sông và để nó trôi đi. Ngọn lửa bập bùng chao đảo, tưởng chừng sắp tắt; nhưng ngọn đèn vẫn tiếp tục cháy, và đôi mắt đen long lanh của cô gái, nửa khuất sau hàng mi dài mượt như tơ, đăm đăm dõi theo nó không rời. Nàng biết rằng nếu ngọn đèn còn cháy suốt lúc nàng còn trông theo được, thì người đã hứa hôn với nàng vẫn còn sống; còn nếu đèn bỗng tắt phụt, chàng đã chết. Và ngọn đèn vẫn kiên cường cháy mãi, nàng bèn quỳ sụp xuống cầu nguyện. Gần nàng trong đám cỏ có một con rắn đốm nằm đó, nhưng nàng chẳng hề để tâm, nàng chỉ nghĩ tới thần Bramah và người nàng đã hẹn ước. ‘Chàng còn sống!’ nàng reo lên mừng rỡ, ‘chàng còn sống!’ Và từ núi non vọng lại tiếng vang, ‘chàng còn sống!’”

Tranh minh hoạ của A. W. Bayes
Tranh: A. W. Bayes

Second Evening.

Tối thứ hai

"Yesterday," said the Moon to me, "I looked down upon a small courtyard surrounded on all sides by houses. In the courtyard sat a clucking hen with eleven chickens; and a pretty little girl was running and jumping around them. The hen was frightened, and screamed, and spread out her wings over the little brood. Then the girl's father came out and scolded her; and I glided away and thought no more of the matter.

“Hôm qua,” Mặt Trăng bảo tôi, “ta nhìn xuống một cái sân nhỏ có nhà vây quanh bốn phía. Dưới sân có một con gà mái đang cục tác cùng mười một con gà con; và một cô bé xinh xắn đang chạy nhảy quanh chúng. Gà mẹ hoảng sợ, kêu quang quác rồi xòe cánh che chở cho đàn con nhỏ. Bấy giờ người cha bước ra mắng cô bé; rồi ta lướt đi và không nghĩ ngợi gì thêm về chuyện đó nữa.

Tranh minh hoạ của A. W. Bayes
Tranh: A. W. Bayes

"But this evening, only a few minutes ago, I looked down into the same courtyard. Everything was quiet. But presently the little girl came forth again, crept quietly to the hen-house, pushed back the bolt, and slipped into the apartment of the hen and chickens. They cried out loudly, and came fluttering down from their perches, and ran about in dismay, and the little girl ran after them. I saw it quite plainly, for I looked through a hole in the hen-house wall. I was angry with the wilful child, and felt glad when her father came out and scolded her more violently than yesterday, holding her roughly by the arm: she held down her head, and her blue eyes were full of large tears. 'What are you about here?' he asked. She wept and said, 'I wanted to kiss the hen and beg her pardon for frightening her yesterday; but I was afraid to tell you.'

“Thế nhưng tối nay, chỉ cách đây vài phút, ta lại nhìn xuống khoảng sân ấy. Mọi thứ đều yên ắng. Nhưng rồi cô bé lại bước ra, rón rén đến bên chuồng gà, gạt then cửa rồi lẻn vào chỗ ở của mẹ con gà. Chúng kêu toáng lên, đập cánh phành phạch lao xuống khỏi chỗ đậu rồi chạy tán loạn vì sợ hãi, còn cô bé thì đuổi theo sau. Ta nhìn thấy rất rõ, vì ta ngó qua một lỗ thủng trên tường chuồng gà. Ta bực mình với đứa trẻ bướng bỉnh, và thấy mừng khi cha nó bước ra mắng nó dữ dội hơn hôm qua, tay túm chặt lấy cánh tay nó: con bé cúi gằm mặt, đôi mắt xanh đẫm những giọt lệ to tròn. ‘Con làm cái gì ở đây thế hả?’ người cha hỏi. Con bé khóc nấc lên và nói: ‘Con muốn hôn con gà mái và xin lỗi vì hôm qua đã làm nó sợ; nhưng con sợ chẳng dám nói với cha.’

"And the father kissed the innocent child's forehead, and I kissed her on the mouth and eyes."

“Thế rồi người cha hôn lên trán đứa con ngây thơ, còn ta hôn lên miệng và mắt con bé.”

Third Evening.

Tối thứ ba

"In the narrow street round the corner yonder—it is so narrow that my beams can only glide for a minute along the walls of the house, but in that minute I see enough to learn what the world is made of—in that narrow street I saw a woman. Sixteen years ago that woman was a child, playing in the garden of the old parsonage, in the country. The hedges of rose-bush were old, and the flowers were faded. They straggled wild over the paths, and the ragged branches grew up among the boughs of the apple trees; here and there were a few roses still in bloom—not so fair as the queen of flowers generally appears, but still they had colour and scent too. The clergyman's little daughter appeared to me a far lovelier rose, as she sat on her stool under the straggling hedge, hugging and caressing her doll with the battered pasteboard cheeks.

“Nơi con phố hẹp ngay góc rẽ đằng kia - phố hẹp đến nỗi ánh sáng của ta chỉ lướt qua những bức tường nhà trong vỏn vẹn một phút, nhưng trong một phút ấy ta đã thấy đủ để hiểu sự đời thế nào - nơi con phố hẹp ấy, ta trông thấy một người đàn bà. Mười sáu năm trước, người đàn bà ấy còn là một đứa trẻ, chơi đùa trong khu vườn của ngôi nhà mục sư cũ chốn đồng quê. Những bờ giậu hoa hồng đã già cỗi, và hoa thì úa tàn. Chúng mọc lan tràn hoang dại khắp các lối đi, những cành xơ xác vươn lên giữa các nhánh cây táo; đó đây vẫn còn vài đóa hồng đang nở - không đẹp bằng vẻ thường ngày của nữ hoàng các loài hoa, song vẫn có sắc và có hương. Trong mắt ta, cô con gái nhỏ của ông mục sư còn là một đóa hồng đáng yêu hơn nhiều, khi cô bé ngồi trên chiếc ghế đẩu dưới bờ giậu mọc lan, ôm ấp và âu yếm con búp bê có đôi má bằng bìa cứng đã sứt sẹo.

"Ten years afterwards I saw her again. I beheld her in a splendid ball-room: she was the beautiful bride of a rich merchant. I rejoiced at her happiness, and sought her on calm quiet evenings—ah, nobody thinks of my clear eye and my silent glance! Alas! my rose ran wild, like the rose bushes in the garden of the parsonage. There are tragedies in every-day life, and to-night I saw the last act of one.

“Mười năm sau đó, ta gặp lại cô. Ta trông thấy cô trong một phòng khiêu vũ lộng lẫy: cô là người vợ mới cưới xinh đẹp của một nhà buôn giàu có. Ta mừng cho hạnh phúc của cô, và những tối êm đềm, ta vẫn tìm đến ngắm cô - ôi, nào có ai để ý tới con mắt trong và cái nhìn lặng lẽ của ta! Than ôi! Đóa hồng của ta đã mọc hoang dại, như những bụi hồng trong vườn nhà mục sư. Đời thường cũng có những bi kịch, và tối nay ta đã chứng kiến màn cuối của một bi kịch như thế.

"She was lying in bed in a house in that narrow street: she was sick unto death, and the cruel landlord came up, and tore away the thin coverlet, her only protection against the cold. 'Get up!' said he; 'your face is enough to frighten one. Get up and dress yourself, give me money, or I'll turn you out into the street! Quick—get up!' She answered, 'Alas! death is gnawing at my heart. Let me rest.' But he forced her to get up and bathe her face, and put a wreath of roses in her hair; and he placed her in a chair at the window, with a candle burning beside her, and went away.

“Cô đang nằm trên giường trong một ngôi nhà nơi con phố hẹp ấy: cô ốm nặng đến mức cận kề cái chết, thế mà gã chủ nhà tàn nhẫn bước lên, giật phăng tấm chăn mỏng manh, thứ duy nhất giúp cô chống chọi với giá rét. ‘Dậy mau!’ gã nói, ‘cái mặt mày trông đến phát khiếp. Dậy mà mặc quần áo vào, đưa tiền cho tao, không thì tao tống cổ ra đường! Mau lên, dậy!’ Cô đáp: ‘Than ôi! Cái chết đang gặm nhấm trái tim tôi rồi. Cho tôi nằm nghỉ.’ Nhưng gã bắt cô phải dậy, rửa mặt và cài một vòng hoa hồng lên tóc; rồi gã đặt cô ngồi vào chiếc ghế bên cửa sổ, bên cạnh có một ngọn nến đang cháy, và bỏ đi.

"I looked at her, and she was sitting motionless, with her hands in her lap. The wind caught the open window and shut it with a crash, so that a pane came clattering down in fragments; but still she never moved. The curtain caught fire, and the flames played about her face; and I saw that she was dead. There at the open window sat the dead woman, preaching a sermon against sin—my poor faded rose out of the parsonage garden!"

“Ta nhìn cô, cô ngồi bất động, hai tay đặt trên đùi. Gió giật mạnh cánh cửa sổ đang mở rồi đóng sầm lại, khiến một ô kính vỡ tan rơi loảng xoảng; thế nhưng cô vẫn không hề nhúc nhích. Rèm cửa bắt lửa, những ngọn lửa liếm quanh gương mặt cô; và ta thấy cô đã chết. Ngay nơi cửa sổ mở toang, người đàn bà đã chết ngồi đó, như đang giảng một bài răn về tội lỗi - đóa hồng tàn úa tội nghiệp của ta nơi khu vườn nhà mục sư!”

Fourth Evening.

Tối thứ tư

"This evening I saw a German play acted," said the Moon. "It was in a little town. A stable had been turned into a theatre; that is to say, the stable had been left standing, and had been turned into private boxes, and all the timber work had been covered with coloured paper. A little iron chandelier hung beneath the ceiling, and that it might be made to disappear into the ceiling, as it does in great theatres, when the ting-ting of the prompter's bell is heard, a great inverted tub had been placed just above it.

“Tối nay ta xem diễn một vở kịch Đức,” Mặt Trăng nói. “Chuyện diễn ra ở một thị trấn nhỏ. Người ta đã biến một chuồng ngựa thành nhà hát; nói đúng hơn là giữ nguyên chuồng ngựa rồi chia thành các lô ghế riêng, còn toàn bộ khung gỗ thì bọc giấy màu. Một chiếc đèn chùm nhỏ bằng sắt treo lơ lửng dưới trần, và để nó có thể biến mất lên trần nhà như ở các nhà hát lớn khi tiếng chuông nhắc tuồng leng keng vang lên, người ta đặt ngay phía trên một cái thùng gỗ lớn úp ngược.

"'Ting-ting!' and the little iron chandelier suddenly rose at least half a yard and disappeared in the tub; and that was the sign that the play was going to begin. A young nobleman and his lady, who happened to be passing through the little town, were present at the performance, and consequently the house was crowded. But under the chandelier was a vacant space like a little crater: not a single soul sat there, for the tallow was dropping, drip, drip! I saw everything, for it was so warm in there that every loophole had been opened. The male and female servants stood outside, peeping through the chinks, although a real policeman was inside, threatening them with a stick. Close by the orchestra could be seen the noble young couple in two old arm-chairs, which were usually occupied by his worship the mayor and his lady; but these latter were to-day obliged to content themselves with wooden forms, just as if they had been ordinary citizens; and the lady observed quietly to herself, 'One sees, now, that there is rank above rank;' and this incident gave an air of extra festivity to the whole proceedings. The chandelier gave little leaps, the crowd got their knuckles rapped, and I, the Moon, was present at the performance from beginning to end."

“‘Leng keng!’ Chiếc đèn chùm sắt nhỏ thoắt cái vút lên ít nhất nửa thước rồi biến mất trong cái thùng; đó là dấu hiệu báo vở kịch sắp bắt đầu. Một quý tộc trẻ cùng phu nhân tình cờ đi ngang qua thị trấn nhỏ đã đến xem buổi diễn, thành thử rạp đông nghẹt người. Nhưng ngay dưới chiếc đèn chùm lại có một khoảng trống trông như miệng núi lửa nhỏ: chẳng một bóng người nào ngồi đó, vì mỡ nến cứ nhỏ giọt tong, tong! Ta nhìn thấy tất cả, bởi bên trong ấm đến nỗi mọi lỗ thông hơi đều được mở toang. Đám người hầu nam nữ đứng bên ngoài, ghé mắt nhòm qua các khe hở, dù bên trong có một ông cảnh sát thật hẳn hoi đang giơ gậy dọa họ. Ngay sát dàn nhạc là đôi vợ chồng quý tộc trẻ, ngồi trên hai chiếc ghế bành cũ, vốn là chỗ ngồi thường ngày của ngài thị trưởng và phu nhân; nhưng hôm nay hai vị này đành phải bằng lòng với những chiếc ghế băng bằng gỗ, chẳng khác gì thường dân; bà thị trưởng khẽ lẩm bẩm một mình: ‘Thế mới thấy trên bậc còn có bậc.’ Chuyện này càng làm cho cả buổi diễn thêm phần long trọng. Chiếc đèn chùm khẽ nảy lên từng chặp, đám đông thì bị gõ gậy vào đốt ngón tay, và ta, Mặt Trăng, đã chứng kiến buổi biểu diễn từ đầu đến cuối.”

Tranh minh hoạ của A. W. Bayes
Tranh: A. W. Bayes

Fifth Evening.

Tối thứ năm

"Yesterday," began the Moon, "I looked down upon the turmoil of Paris. My eye penetrated into an apartment of the Louvre. An old grandmother, poorly clad—she belonged to the working class—was following one of the under-servants into the great empty throne-room, for this was the apartment she wanted to see—that she was resolved to see; it had cost her many a little sacrifice, and many a coaxing word, to penetrate thus far. She folded her thin hands, and looked round with an air of reverence, as if she had been in a church.

“Hôm qua,” Mặt Trăng bắt đầu kể, “ta nhìn xuống cảnh náo động của Paris. Mắt ta rọi vào một căn phòng trong điện Louvre. Một bà lão ăn mặc xoàng xĩnh - bà thuộc tầng lớp lao động - đang theo chân một người hầu bước vào căn phòng ngai vàng rộng lớn, vắng vẻ, bởi đây chính là căn phòng bà muốn thấy, căn phòng mà bà quyết tâm phải thấy; bà đã phải chắt bóp, nhịn bao thứ nhỏ nhặt và nói bao lời nài nỉ ngọt ngào mới vào được tận đây. Bà chắp đôi bàn tay gầy gò, nhìn quanh với vẻ cung kính, như thể đang đứng trong nhà thờ.

"'Here it was!' she said, 'here!' And she approached the throne, from which hung the rich velvet fringed with gold lace. 'There,' she exclaimed, 'there!' and she knelt and kissed the purple carpet. I think she was actually weeping.

“‘Chính là ở đây!’ bà nói, ‘chính nơi này!’ Rồi bà bước lại gần ngai vàng, nơi buông rủ tấm vải nhung lộng lẫy viền ren vàng. ‘Kìa,’ bà thốt lên, ‘kìa!’ Rồi bà quỳ xuống hôn lên tấm thảm màu tía. Ta nghĩ bà đã thực sự bật khóc.

"'But it was not this very velvet!' observed the footman, and a smile played about his mouth. 'True, but it was this very place,' replied the woman, 'and it must have looked just like this.' 'It looked so, and yet it did not,' observed the man: 'the windows were beaten in, and the doors were off their hinges, and there was blood upon the floor.' 'But for all that you can say, my grandson died upon the throne of France. Died!' mournfully repeated the old woman. I do not think another word was spoken, and they soon quitted the hall. The evening twilight faded, and my light shone doubly vivid upon the rich velvet that covered the throne of France.

“‘Nhưng đâu phải tấm nhung này!’ người hầu nói, một nụ cười thoáng hiện trên môi anh ta. ‘Đúng thế, nhưng chính là chỗ này,’ người đàn bà đáp, ‘và chắc hẳn hồi ấy trông cũng hệt thế này.’ ‘Trông thế mà lại không phải thế đâu,’ người đàn ông nói: ‘cửa sổ bị đập vỡ toang, cửa ra vào bung cả bản lề, và trên sàn có máu.’ ‘Nhưng dù chú có nói gì đi nữa, cháu trai tôi đã chết trên ngai vàng nước Pháp. Đã chết!’ bà lão đau đớn nhắc lại. Ta nghĩ họ chẳng nói thêm lời nào nữa, rồi họ mau chóng rời khỏi căn phòng. Ánh hoàng hôn tắt dần, và ánh sáng của ta càng rực lên gấp đôi trên tấm nhung lộng lẫy phủ ngai vàng nước Pháp.

"Now, who do you think this poor woman was? Listen, I will tell you a story.

“Nào, cậu đoán xem người đàn bà tội nghiệp ấy là ai? Nghe này, ta sẽ kể cho cậu một câu chuyện.

"It happened, in the Revolution of July, on the evening of the most brilliantly victorious day, when every house was a fortress, every window a breastwork. The people stormed the Tuileries. Even women and children were to be found among the combatants. They penetrated into the apartments and halls of the palace. A poor half-grown boy in a ragged blouse fought among the older insurgents. Mortally wounded with several bayonet thrusts, he sank down. This happened in the throne-room. They laid the bleeding youth upon the throne of France, wrapped the velvet around his wounds, and his blood streamed forth upon the imperial purple. There was a picture! the splendid hall, the fighting groups! A torn flag lay upon the ground, the tricolor was waving above the bayonets, and on the throne lay the poor lad with the pale glorified countenance, his eyes turned towards the sky, his limbs writhing in the death agony, his breast bare, and his poor tattered clothing half hidden by the rich velvet embroidered with silver lilies. At the boy's cradle a prophecy had been spoken: 'He will die on the throne of France!' The mother's heart dreamt of a second Napoleon.

“Chuyện xảy ra vào Cách mạng Tháng Bảy, trong buổi chiều tà của ngày chiến thắng vẻ vang nhất, khi mỗi ngôi nhà là một pháo đài, mỗi ô cửa sổ là một chiến lũy. Dân chúng tấn công vào điện Tuileries. Cả phụ nữ và trẻ em cũng có mặt trong hàng ngũ những người chiến đấu. Họ ùa vào các gian phòng và đại sảnh của cung điện. Một chú bé nghèo đang tuổi mới lớn, mặc chiếc áo cánh rách rưới, chiến đấu giữa những người khởi nghĩa lớn tuổi hơn. Trúng nhiều nhát lưỡi lê chí mạng, chú gục xuống. Chuyện ấy xảy ra ngay trong phòng ngai vàng. Người ta đặt chú bé máu me đầm đìa lên ngai vàng nước Pháp, lấy tấm nhung quấn quanh những vết thương của chú, và máu chú tuôn trào trên sắc tía hoàng gia. Thật là một bức tranh! Gian đại sảnh lộng lẫy, những nhóm người đang giao chiến! Một lá cờ rách tả tơi nằm trên mặt đất, lá cờ tam tài phần phật bay trên đầu những ngọn lưỡi lê, và trên ngai vàng là chú bé tội nghiệp với gương mặt nhợt nhạt rạng ngời, đôi mắt hướng lên bầu trời, chân tay quằn quại trong cơn hấp hối, ngực trần, còn bộ quần áo rách nát đáng thương bị tấm nhung lộng lẫy thêu hoa huệ bạc che khuất một nửa. Bên nôi chú bé ngày nào từng có lời tiên tri: ‘Nó sẽ chết trên ngai vàng nước Pháp!’ Trái tim người mẹ từng mơ về một Napoleon thứ hai.

"My beams have kissed the wreath of immortelles on his grave, and this night they kissed the forehead of the old grandame, while in a dream the picture floated before her which thou mayest draw—the poor boy on the throne of France."

“Những tia sáng của ta từng hôn lên vòng hoa bất tử trên mộ chú bé, và đêm nay chúng lại hôn lên vầng trán bà lão, trong lúc trước mắt bà, giữa giấc mơ, hiện lên bức tranh mà cậu có thể vẽ lại: chú bé nghèo trên ngai vàng nước Pháp.”

Đọc tiếp phần còn lại của “Những điều Mặt Trăng thấy” trong app Open Book

Cả cuốn miễn phí trong app. Trong app có thêm:

Nguyên tác: Hans Christian Andersen (1866); bản tiếng Anh của H. W. Dulcken (1866), đã thuộc phạm vi công cộng. Bản dịch tiếng Việt: Open Book.

Hết bảo hộ ở Mỹ và Việt Nam. Chữ: Hans Christian Andersen (mất 1875); bản tiếng Anh của H. W. Dulcken (mất 1894), in năm 1866. Tranh: A. W. Bayes (mất 1909), anh em Dalziel khắc gỗ (người cuối cùng mất năm 1906); từ What the Moon Saw: and Other Tales (1866).