Open Book
Bìa Đảo kho báu (tranh: Louis Rhead)

Open Book › Đọc thử song ngữ

Đảo kho báu (Treasure Island): đọc song ngữ

Robert Louis Stevenson · 1883 · Trình độ B1 (trung cấp) theo app Open Book · miễn phí trong app

Cậu bé Jim Hawkins theo tấm bản đồ của tên cướp biển Flint ra khơi tìm kho báu, cùng con tàu có Long John Silver và đám thủy thủ sắp nổi loạn. Tiếng Anh thế kỷ 19, nhiều từ nghề đi biển và lời thoại bỗ bã của cướp biển.

To the Hesitating Purchaser

Gửi người mua còn do dự

If sailor tales to sailor tunes,
Storm and adventure, heat and cold,
If schooners, islands, and maroons
And Buccaneers and buried Gold,
And all the old romance, retold
Exactly in the ancient way,
Can please, as me they pleased of old,
The wiser youngsters of today:

Nếu chuyện người biển hòa điệu biển,
Bão bùng, mạo hiểm, rét cùng nồng,
Nếu tàu buồm, người bị bỏ đảo hoang,
Cùng phường cướp biển với kho vàng,
Và thiên truyện cũ đem kể lại
Đúng theo lề lối thuở xa xôi,
Còn làm vui lớp trẻ khôn hôm nay,
Như đã từng say đắm lòng tôi:

—So be it, and fall on! If not,
If studious youth no longer crave,
His ancient appetites forgot,
Kingston, or Ballantyne the brave,
Or Cooper of the wood and wave:
So be it, also! And may I
And all my pirates share the grave
Where these and their creations lie!

Thì cứ thế, xin mời xông vào! Bằng không,
Nếu tuổi trẻ ham sách chẳng còn thèm,
Quên bẵng những niềm say mê cũ,
Chẳng màng Kingston¹, Ballantyne can trường,
Hay Cooper của rừng sâu cùng sóng biển:
Thì cũng đành thôi! Và ước mong
Tôi cùng lũ cướp biển của mình
Chung mồ với họ cùng những nhân vật họ viết ra!

To
Lloyd Osbourne,
An American Gentleman,
In accordance with whose classic taste
The following narrative has been designed,
It is now, in return for numerous delightful hours
And with the kindest wishes,

Gửi
Lloyd Osbourne,
Một quý ông người Mỹ,
Theo đúng khiếu thưởng thức cổ điển của cậu
Câu chuyện kể sau đây đã được dựng nên,
Nay, để đền đáp bao giờ phút vui thú
Cùng những lời chúc tốt lành nhất,

Dedicated
By his affectionate friend,
The Author

Xin trân trọng đề tặng
Từ người bạn thân thương của cậu,
Tác giả

Part I: The Old Buccaneer

Phần I: Lão cướp biển

I: At the Admiral Benbow

I: Ở quán Đô đốc Benbow

Squire Trelawney, Doctor Livesey, and the rest of these gentlemen having asked me to write down the whole particulars about Treasure Island, from the beginning to the end, keeping nothing back but the bearings of the island, and that only because there is still treasure not yet lifted, I take up my pen in the year of grace 17—, and go back to the time when my father kept the Admiral Benbow Inn, and the brown old seaman, with the saber cut, first took up his lodging under our roof.

Ông điền chủ Trelawney, bác sĩ Livesey cùng các quý ông kia đã yêu cầu tôi ghi lại toàn bộ ngọn ngành câu chuyện về đảo Kho Báu, từ đầu chí cuối, không giấu giếm điều gì ngoại trừ tọa độ hòn đảo, mà giấu điều ấy cũng chỉ vì trên đảo vẫn còn kho báu chưa đào lên; nay tôi cầm bút vào năm của Chúa 17…, trở về cái thời bố tôi còn coi quán Đô đốc Benbow, và lão thủy thủ già da ngăm mang vết sẹo mã tấu lần đầu tiên đến trọ dưới mái nhà chúng tôi.

Tranh minh hoạ của Louis Rhead
Tranh: Louis Rhead
Tranh minh hoạ của Louis Rhead
Tranh: Louis Rhead

I remember him as if it were yesterday, as he came plodding to the inn door, his sea-chest following behind him in a handbarrow; a tall, strong, heavy, nut-brown man; his tarry pigtail falling over the shoulders of his soiled blue coat; his hands ragged and scarred, with black, broken nails, and the saber cut across one cheek, a dirty, livid white. I remember him looking round the cove and whistling to himself as he did so, and then breaking out in that old sea-song that he sang so often afterwards:

Tôi nhớ lão như thể mới hôm qua, khi lão lê bước nặng nề đến trước cửa quán, chiếc rương đi biển theo sau trên một chiếc xe đẩy tay; một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, nặng nề, nước da ngăm màu vỏ hạt dẻ; bím tóc bết hắc ín buông qua vai chiếc áo khoác xanh lấm lem; đôi bàn tay chai sạn đầy sẹo với những móng tay đen đúa gãy nham nhở, và vết chém mã tấu vắt ngang một bên má có màu trắng bệch bẩn thỉu. Tôi nhớ lão vừa đưa mắt nhìn quanh vũng biển vừa huýt sáo một mình, rồi cất giọng hát khúc ca biển xưa cũ mà sau này lão hát đi hát lại không biết bao lần:

“Fifteen men on the dead man’s chest,
Yo-ho-ho and a bottle of rum!”

“Mười lăm gã trên rương người chết,
Yo-ho-ho, và một chai rượu rum!”

in the high, old tottering voice that seemed to have been tuned and broken at the capstan bars. Then he rapped on the door with a bit of stick like a handspike that he carried, and when my father appeared, called roughly for a glass of rum. This, when it was brought to him, he drank slowly, like a connoisseur, lingering on the taste, and still looking about him at the cliffs and up at our signboard.

bằng cái giọng the thé, run rẩy của tuổi già dường như đã được luyện rồi vỡ tiếng bên những đòn quay tời. Rồi lão gõ cồm cộp lên cửa bằng mẩu gậy mang theo nom như chiếc đòn bẩy, và khi bố tôi bước ra, lão cộc cằn gọi một ly rượu rum. Khi ly rượu được mang tới, lão uống từ tốn như một kẻ sành rượu, nhâm nhi thưởng thức vị ngon, mắt vẫn ngó nghiêng vách đá xung quanh rồi ngước nhìn tấm biển hiệu quán chúng tôi.

“This is a handy cove,” says he, at length; “and a pleasant sittyated grogshop. Much company, mate?”

“Vũng biển này tiện thật,” hồi lâu lão mới lên tiếng; “quán rượu đặt ở chỗ này cũng dễ chịu đấy. Đông khách không, anh bạn?”

My father told him no, very little company, the more was the pity.

Bố tôi đáp là không, rất vắng khách, thật đáng tiếc.

“Well, then,” said he, “this is the berth for me. Here you, matey,” he cried to the man who trundled the barrow; “bring up alongside and help up my chest. I’ll stay here a bit,” he continued. “I’m a plain man; rum and bacon and eggs is what I want, and that head up there for to watch ships off. What you mought call me? You mought call me captain. Oh, I see what you’re at—there”; and he threw down three or four gold pieces on the threshold. “You can tell me when I’ve worked through that,” said he, looking as fierce as a commander.

“Thế thì,” lão nói, “đây đúng là bến đỗ cho ta rồi. Này chú em,” lão gọi với người đẩy xe; “ghé xe lại đây rồi đỡ cái rương lên giúp ta. Ta sẽ ở lại đây một dạo,” lão nói tiếp. “Ta là người giản dị; rượu rum với thịt xông khói và trứng là đủ cho ta, cùng cái mũi đất trên kia để canh tàu bè ngoài khơi. Gọi ta là gì à? Cứ gọi ta là thuyền trưởng. À, ta biết anh đang tính gì rồi - đây này”; và lão ném ba bốn đồng tiền vàng xuống bậc cửa. “Bao giờ ta tiêu hết chỗ đó thì bảo,” lão nói, vẻ mặt dữ dằn như một viên chỉ huy.

And, indeed, bad as his clothes were, and coarsely as he spoke, he had none of the appearance of a man who sailed before the mast, but seemed like a mate or skipper, accustomed to be obeyed or to strike. The man who came with the barrow told us the mail had set him down the morning before at the Royal George; that he had inquired what inns there were along the coast, and hearing ours well spoken of, I suppose, and described as lonely, had chosen it from the others for his place of residence. And that was all we could learn of our guest.

Và quả thật, dù quần áo rách rưới và ăn nói thô lỗ, lão chẳng hề có vẻ gì là một gã thủy thủ thường, mà nom giống thuyền phó hay thuyền trưởng, quen được kẻ khác tuân lệnh hoặc thẳng tay trừng phạt. Người đẩy xe kể rằng sáng hôm trước cỗ xe thư đã thả lão xuống quán Royal George; lão đã dò hỏi dọc bờ biển có những quán trọ nào, và tôi đồ rằng nhờ nghe người ta khen quán nhà tôi lại bảo nơi đây vắng vẻ, lão mới chọn nơi này làm chốn dừng chân. Đó là tất cả những gì chúng tôi dò biết được về người khách trọ.

He was a very silent man by custom. All day he hung round the cove, or upon the cliffs, with a brass telescope; all evening he sat in a corner of the parlor next the fire, and drank rum and water very strong. Mostly he would not speak when spoken to; only look up sudden and fierce, and blow through his nose like a foghorn; and we and the people who came about our house soon learned to let him be. Every day, when he came back from his stroll, he would ask if any seafaring men had gone by along the road. At first we thought it was the want of company of his own kind that made him ask this question; but at last we began to see he was desirous to avoid them. When a seaman put up at the Admiral Benbow (as now and then some did, making by the coast road for Bristol), he would look in at him through the curtained door before he entered the parlor; and he was always sure to be as silent as a mouse when any such was present. For me, at least, there was no secret about the matter; for I was, in a way, a sharer in his alarms.

Tính lão vốn rất lầm lì. Suốt ngày lão quanh quẩn bên vũng biển hoặc trèo lên vách đá với chiếc ống nhòm bằng đồng; tối đến lão lại ngồi thu lu một góc phòng khách cạnh lò sưởi, uống rượu rum pha nước thật đậm. Ai bắt chuyện lão thường chẳng buồn đáp, chỉ bất thần ngước mắt lên đầy hung dữ rồi thở phì qua mũi như còi báo sương; cả nhà tôi lẫn khách khứa đến quán đều sớm biết ý mà để mặc lão. Ngày nào đi tản bộ về lão cũng hỏi xem có người đi biển nào qua lại trên đường không. Ban đầu chúng tôi cứ ngỡ lão hỏi thế vì thèm có bạn cùng nghề đi biển, nhưng rồi rốt cuộc chúng tôi cũng vỡ lẽ ra rằng lão muốn tránh mặt họ. Mỗi khi có thủy thủ nào ghé trọ ở quán Đô đốc Benbow (thỉnh thoảng vẫn có người theo con đường ven biển để tới Bristol), lão đều dòm qua tấm rèm cửa ngó mặt người đó trước khi bước vào phòng khách; và hễ có người như thế ở trong quán, lão nhất định sẽ câm như hến. Ít nhất thì đối với tôi, điều đó chẳng có gì là bí mật, bởi phần nào đó tôi cũng chia sẻ mối âu lo cùng lão.

He had taken me aside one day and promised me a silver fourpenny on the first of every month if I would only keep my “weather eye open for a seafaring man with one leg,” and let him know the moment he appeared. Often enough when the first of the month came round, and I applied to him for my wage, he would only blow through his nose at me, and stare me down; but before the week was out he was sure to think better of it, bring me my fourpenny piece, and repeat his orders to look out for “the seafaring man with one leg.”

Có một ngày lão kéo riêng tôi ra một chỗ và hứa sẽ cho tôi một đồng bốn penny bằng bạc² vào ngày đầu mỗi tháng, chỉ cần tôi biết “mở to mắt canh chừng người đi biển một chân” và báo ngay cho lão khi thấy bóng dáng hắn. Thường thì cứ đến ngày đầu tháng, khi tôi tới xin tiền công, lão chỉ thở phì vào mặt tôi rồi trừng mắt át vía; nhưng chưa hết tuần lão nhất định sẽ nghĩ lại, mang đồng bốn penny đến cho tôi rồi nhắc lại lệnh phải để mắt tìm “người đi biển một chân”.

How that personage haunted my dreams, I need scarcely tell you. On stormy nights, when the wind shook the four corners of the house, and the surf roared along the cove and up the cliffs, I would see him in a thousand forms, and with a thousand diabolical expressions. Now the leg would be cut off at the knee, now at the hip; now he was a monstrous kind of a creature who had never had but one leg, and that in the middle of his body. To see him leap and run and pursue me over hedge and ditch, was the worst of nightmares. And altogether I paid pretty dear for my monthly fourpenny piece, in the shape of these abominable fancies.

Nhân vật ấy đã ám ảnh giấc mơ của tôi thế nào, tôi chắc chẳng cần phải kể với các bạn. Những đêm giông bão, khi gió rít lung lay bốn góc nhà và sóng gầm réo dọc vũng biển dội lên vách đá, tôi lại thấy hắn hiện ra trong cả nghìn hình dạng, với cả nghìn vẻ mặt quỷ quái. Khi thì cái chân cụt tới tận đầu gối, lúc lại cụt đến tận háng; khi thì hắn hóa thành một sinh vật quái đản xưa nay chỉ độc một chân mọc ngay giữa thân mình. Cảnh hắn nhảy chồm chồm đuổi theo tôi qua bờ rào và hào rãnh là cơn ác mộng khủng khiếp nhất. Nói tóm lại, tôi đã phải trả giá khá đắt cho đồng bốn penny mỗi tháng bằng chính những ảo ảnh ghê tởm ấy.

But though I was so terrified by the idea of the seafaring man with one leg, I was far less afraid of the captain himself than anybody else who knew him. There were nights when he took a deal more rum and water than his head would carry; and then he would sometimes sit and sing his wicked, old, wild sea-songs, minding nobody; but sometimes he would call for glasses round, and force all the trembling company to listen to his stories or bear a chorus to his singing. Often I have heard the house shaking with “Yo-ho-ho and a bottle of rum,” all the neighbors joining in for dear life, with the fear of death upon them, and each singing louder than the other to avoid remark. For in these fits he was the most overriding companion ever known; he would slap his hand on the table for silence all around; he would fly up in a passion of anger at a question, or sometimes because none was put, and so he judged the company was not following his story. Nor would he allow anyone to leave the inn till he had drunk himself sleepy and reeled off to bed.

Dù sợ hãi hình ảnh người đi biển một chân đến thế, tôi lại sợ chính lão thuyền trưởng ít hơn hẳn bất cứ ai quen biết lão. Có những đêm lão nốc nhiều rượu rum pha nước quá mức tửu lượng; lúc đó lão ngồi hát những khúc ca biển xưa cũ, man dại và quái ác, chẳng thèm để ý đến ai; nhưng cũng có khi lão gọi rượu đãi cả phòng, rồi ép mọi người đang run như cầy sấy phải nghe lão kể chuyện hoặc hát bè theo lão. Tôi đã bao lần chứng kiến cả ngôi nhà rung chuyển theo câu “Yo-ho-ho, và một chai rượu rum”, bà con lối xóm ai nấy gào hết sức bình sinh vì sợ mất mạng, người nọ cố hát to hơn người kia để khỏi bị lão dòm ngó. Bởi những lúc lên cơn như thế, lão là tay bạn nhậu lấn lướt hách dịch nhất trần đời; lão đập tay đánh rầm xuống bàn bắt bốn bề phải nín lặng; lão nổi tam bành khi có ai cất lời hỏi, hoặc đôi khi chỉ vì chẳng ai hỏi câu nào khiến lão cho rằng cử tọa không thèm theo dõi câu chuyện. Lão cũng chẳng cho ai rời quán chừng nào chính lão chưa uống đến díp mắt rồi lảo đảo lên giường.

His stories were what frightened people worst of all. Dreadful stories they were; about hanging, and walking the plank, and storms at sea, and the Dry Tortugas, and wild deeds and places on the Spanish Main. By his own account, he must have lived his life among some of the wickedest men that God ever allowed upon the sea; and the language in which he told these stories shocked our plain country people almost as much as the crimes that he described. My father was always saying the inn would be ruined, for people would soon cease coming there to be tyrannized over and put down and sent shivering to their beds; but I really believe his presence did us good. People were frightened at the time, but on looking back they rather liked it; it was a fine excitement in a quiet country life; and there was even a party of the younger men who pretended to admire him, calling him a “true seadog,” and a “real old salt,” and suchlike names, and saying there was the sort of man that made England terrible at sea.

Những câu chuyện của lão mới là thứ làm người ta khiếp sợ hơn cả. Toàn những chuyện rùng rợn; nào chuyện treo cổ, chuyện bắt tù binh bước ra ván lao xuống biển, bão tố ngoài khơi, chuyện vùng đảo Dry Tortugas, cùng những tội ác man rợ và những nơi chốn dọc bờ biển Spanish Main³. Cứ theo lời lão kể thì lão ắt phải sống cả đời giữa những kẻ gian ác nhất mà Chúa từng dung thứ trên mặt biển; và những lời lẽ lão dùng khi kể những chuyện ấy làm đám dân quê chất phác của chúng tôi kinh hoàng chẳng kém gì những tội ác mà lão tả lại. Bố tôi luôn mồm bảo quán trọ này rồi sẽ lụi bại, vì người ta sẽ chẳng thèm đến đây để bị ức hiếp, đè nén rồi sợ run cầm cập mò về giường ngủ; nhưng tôi thực lòng tin sự có mặt của lão lại đem lại điều tốt cho chúng tôi. Lúc nghe thì ai cũng sợ, nhưng ngẫm lại họ lại thấy thích thú; đó là một nỗi hồi hộp thú vị giữa cuộc sống thôn quê phẳng lặng; thậm chí có một nhóm thanh niên còn tỏ vẻ ngưỡng mộ lão, gọi lão là “dân biển chính cống”, “lão thủy thủ dày dạn”, cùng những danh xưng tương tự, và bảo chính hạng người như thế mới làm cho nước Anh trở nên đáng sợ trên đại dương.

In one way, indeed, he bade fair to ruin us; for he kept on staying week after week, and at last month after month, so that all the money had been long exhausted, and still my father never plucked up the heart to insist on having more. If ever he mentioned it, the captain blew through his nose so loudly that you might say he roared, and stared my poor father out of the room. I have seen him wringing his hands after such a rebuff, and I am sure the annoyance and the terror he lived in must have greatly hastened his early and unhappy death.

Thực ra, ở một phương diện, lão cũng suýt nữa làm chúng tôi sạt nghiệp; bởi lão cứ ở lì tuần này qua tuần khác, rồi tháng này qua tháng khác, thành thử số tiền lão đưa đã hết nhẵn từ lâu, mà bố tôi chẳng bao giờ lấy đủ can đảm để gặng đòi thêm. Hễ bố tôi đụng đến chuyện đó, lão thuyền trưởng lại thở phì qua mũi ầm ĩ chẳng khác nào tiếng hổ gầm, rồi trừng trừng mắt lấn át khiến bố tôi tội nghiệp phải lui ra khỏi phòng. Tôi đã thấy bố xoắn hai bàn tay vào nhau sau mỗi lần bị cự tuyệt như thế, và tôi dám chắc nỗi bực bội cùng nỗi khiếp sợ mà bố ngày ngày phải chịu đã đẩy nhanh cái chết sớm và bất hạnh của bố.

All the time he lived with us the captain made no change whatever in his dress but to buy some stockings from a hawker. One of the cocks of his hat having fallen down, he let it hang from that day forth, though it was a great annoyance when it blew. I remember the appearance of his coat, which he patched himself upstairs in his room, and which, before the end, was nothing but patches. He never wrote or received a letter, and he never spoke with any but the neighbors, and with these, for the most part, only when drunk on rum. The great sea-chest none of us had ever seen open.

Suốt thời gian ở với chúng tôi, lão thuyền trưởng chẳng hề thay đổi gì trong cách ăn mặc, trừ mấy đôi tất mua của một người bán rong. Một góc vành chiếc mũ ba sừng của lão bị sụp xuống, lão cứ để mặc nó lòng thòng từ ngày ấy, dẫu mỗi khi có gió thì vướng víu vô cùng. Tôi còn nhớ hình dáng chiếc áo khoác của lão, chiếc áo lão tự tay vá víu trên phòng mình, và về cuối thì nó chỉ còn toàn những miếng vá chằng vá đụp. Lão không bao giờ viết hay nhận một lá thư nào, cũng chẳng chuyện trò với ai trừ những người hàng xóm, mà với họ thì phần lớn cũng chỉ khi lão đã say khướt rượu rum. Còn chiếc rương đi biển to tướng thì chưa ai trong chúng tôi từng thấy mở ra bao giờ.

He was only once crossed, and that was toward the end, when my poor father was far gone in a decline that took him off. Doctor Livesey came late one afternoon to see the patient, took a bit of dinner from my mother, and went into the parlor to smoke a pipe until his horse should come down from the hamlet, for we had no stabling at the old Benbow. I followed him in, and I remember observing the contrast the neat, bright doctor, with his powder as white as snow, and his bright, black eyes and pleasant manners, made with the coltish country folk, and above all, with that filthy, heavy, bleared scarecrow of a pirate of ours, sitting far gone in rum, with his arms on the table. Suddenly he—the captain, that is—began to pipe up his eternal song:

Chỉ duy nhất một lần có người dám chống lại lão, và chuyện xảy ra vào dạo gần cuối, khi bố tôi tội nghiệp đã kiệt sức vì chứng bệnh suy mòn mà rồi bố không qua khỏi. Bác sĩ Livesey đến vào một buổi chiều muộn để thăm bệnh nhân, ăn qua loa chút bữa tối mẹ tôi dọn, rồi vào phòng khách hút tẩu thuốc trong lúc chờ người dắt ngựa từ thôn xóm tới, bởi quán Benbow cũ không có chuồng ngựa. Tôi đi theo ông vào trong, và còn nhớ mình đã thấy sự tương phản giữa vị bác sĩ gọn gàng, sáng sủa, với mái tóc rắc phấn trắng như tuyết, đôi mắt đen sáng ngời cùng cử chỉ nhã nhặn, với đám dân quê thô kệch, và hơn hết thảy, với lão cướp biển của nhà chúng tôi, bẩn thỉu, nặng nề, mắt kèm nhem, trông như con bù nhìn, đang ngồi say khướt, hai tay tì lên bàn. Bỗng nhiên lão - tức lão thuyền trưởng - bắt đầu the thé cất lên khúc hát muôn thuở của mình:

“Fifteen men on the dead man’s chest,
Yo-ho-ho and a bottle of rum!

“Mười lăm gã trên rương người chết,
Yo-ho-ho, và một chai rượu rum!

“Drink and the devil had done for the rest—
Yo-ho-ho and a bottle of rum!”

“Rượu với quỷ đã xử nốt bọn kia…
Yo-ho-ho, và một chai rượu rum!”

At first I had supposed “the dead man’s chest” to be that identical big box of his upstairs in the front room, and the thought had been mingled in my nightmares with that of the one-legged seafaring man. But by this time we had all long ceased to pay any particular notice to the song; it was new, that night, to nobody but Doctor Livesey, and on him I observed it did not produce an agreeable effect, for he looked up for a moment quite angrily before he went on with his talk to old Taylor, the gardener, on a new cure for rheumatics. In the meantime the captain gradually brightened up at his own music, and at last flapped his hand upon the table before him in a way we all knew to mean—silence. The voices stopped at once, all but Doctor Livesey’s; he went on as before, speaking clear and kind, and drawing briskly at his pipe between every word or two. The captain glared at him for a while, flapped his hand again, glared still harder, and at last broke out with a villainous oath: “Silence, there, between decks!”

Ban đầu tôi cứ ngỡ “rương người chết” chính là cái rương lớn của lão để trong căn phòng phía trước trên gác, và ý nghĩ ấy cứ lẩn khuất trong những cơn ác mộng của tôi cùng với hình ảnh người đi biển một chân. Nhưng bấy giờ chúng tôi đều đã thôi không còn bận tâm đến bài hát ấy từ lâu; đêm đó, khúc ca chẳng mới mẻ với ai ngoài bác sĩ Livesey, và tôi nhận thấy nó gây cho ông một cảm giác chẳng mấy dễ chịu, bởi ông ngước mắt nhìn lên một thoáng đầy vẻ tức giận trước khi tiếp tục trò chuyện với ông lão làm vườn Taylor về một phương thuốc mới chữa bệnh thấp khớp. Trong khi đó, lão thuyền trưởng dần dần phấn chấn lên theo điệu hát của chính mình, rồi cuối cùng đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn trước mặt theo cái cách mà tất cả chúng tôi đều hiểu là… im lặng. Mọi tiếng nói ngưng bặt ngay tắp lự, trừ tiếng bác sĩ Livesey; ông vẫn tiếp tục như trước, giọng nói rành rẽ và từ tốn, cứ một hai tiếng lại rít nhanh một hơi tẩu. Lão thuyền trưởng trừng mắt nhìn ông một lát, lại đập tay xuống bàn, rồi trừng mắt dữ tợn hơn, và cuối cùng thốt ra một câu chửi thề bỉ ổi: “Im mồm dưới khoang kia!”

“Were you addressing me, sir?” said the doctor; and when the ruffian had told him, with another oath, that this was so, replied, “I have only one thing to say to you, sir, that if you keep on drinking rum, the world will soon be quit of a very dirty scoundrel!”

“Ông đang nói với tôi đấy à, thưa ông?” bác sĩ hỏi; và khi tên côn đồ buông thêm một câu chửi thề xác nhận đúng là thế, ông đáp: “Tôi chỉ có một điều muốn nói với ông thôi, thưa ông, là nếu ông cứ uống rượu rum mãi thế này thì thế gian sẽ sớm thoát nợ một tên vô lại hết sức bẩn thỉu!”

The old fellow’s fury was awful. He sprang to his feet, drew and opened a sailor’s clasp-knife, and balancing it open on the palm of his hand, threatened to pin the doctor to the wall.

Cơn thịnh nộ của lão già thật kinh khiếp. Lão bật dậy, rút rồi bật mở con dao nhíp thủy thủ, đặt lưỡi dao mở thăng bằng trên lòng bàn tay, dọa sẽ găm bác sĩ dính vào tường.

The doctor never so much as moved. He spoke to him, as before, over his shoulder, and in the same tone of voice, rather high, so that all the room might hear, but perfectly calm and steady:

Bác sĩ thậm chí chẳng thèm nhúc nhích. Ông ngoảnh đầu qua vai nói với lão như trước, vẫn bằng cái giọng hơi cao để cả phòng cùng nghe thấy, nhưng hoàn toàn điềm tĩnh và đanh thép:

“If you do not put that knife this instant into your pocket, I promise, upon my honor, you shall hang at the next assizes.”

“Nếu ông không cất con dao ấy vào túi ngay lập tức, tôi lấy danh dự mà cam đoan rằng ông sẽ bị treo cổ ở phiên tòa đại hình tới.”

Then followed a battle of looks between them; but the captain soon knuckled under, put up his weapon, and resumed his seat, grumbling like a beaten dog.

Tiếp đó là một cuộc đọ mắt giữa hai người; nhưng lão thuyền trưởng nhanh chóng chịu lép vế, cất vũ khí rồi ngồi thụp xuống ghế, miệng lầm bầm như một con chó bị đòn.

Tranh minh hoạ của Louis Rhead
Tranh: Louis Rhead

“And now, sir,” continued the doctor, “since I now know there’s such a fellow in my district, you may count I’ll have an eye upon you day and night. I’m not a doctor only, I’m a magistrate; and if I catch a breath of complaint against you, if it’s only for a piece of incivility like tonight’s, I’ll take effectual means to have you hunted down and routed out of this. Let that suffice.”

“Còn bây giờ, thưa ông,” bác sĩ nói tiếp, “bởi tôi đã biết có một kẻ như ông ở hạt này, ông cứ tin chắc là tôi sẽ để mắt canh chừng ông ngày đêm. Tôi không chỉ là thầy thuốc, tôi còn là quan tòa; và hễ tôi nghe phong phanh một lời than phiền nào về ông, dẫu chỉ vì thói vô lễ như tối nay, tôi sẽ dùng biện pháp thích đáng để lùng bắt và tống cổ ông ra khỏi xứ này. Biết thế là đủ rồi đấy.”

Soon after Doctor Livesey’s horse came to the door and he rode away, but the captain held his peace that evening, and for many evenings to come.

Chẳng bao lâu sau, ngựa của bác sĩ Livesey được dắt đến trước cửa và ông lên ngựa ra về, còn lão thuyền trưởng thì nín thin thít suốt buổi tối hôm đó, và trong nhiều buổi tối về sau.

  1. Kingston, Ballantyne và Cooper là ba nhà văn thế kỷ 19 có truyện phiêu lưu được thiếu niên thời ấy mê đọc; Cooper viết cả truyện rừng sâu lẫn truyện biển cả. ↩
  2. Đồng bốn penny là đồng xu bạc nhỏ của Anh thời ấy, giá bằng một phần ba shilling. ↩
  3. Spanish Main là vùng bờ biển Trung và Nam Mỹ giáp biển Caribe, từng thuộc Tây Ban Nha. ↩

Đọc tiếp chương II: Chó Đen xuất hiện rồi biến mất trong app Open Book

Cả cuốn miễn phí trong app. Trong app có thêm:

Nguyên tác: Robert Louis Stevenson (1883), đã thuộc phạm vi công cộng. Bản dịch tiếng Việt: Open Book.

Hết bảo hộ ở Mỹ và Việt Nam. Chữ: Robert Louis Stevenson (mất 1894), in năm 1883. Tranh: Louis Rhead (mất 1926); từ Treasure Island (1915).