Bambi (Bambi): đọc song ngữ
Cuộc đời hươu Bambi trong rừng, từ lúc mới sinh đến khi trưởng thành, giữa nỗi sợ về “Hắn”, con người cầm súng. Văn kể chậm, giàu cảnh thiên nhiên, phần lớn là lời trò chuyện giữa các con vật.
I
I
He came into the world in the middle of the thicket, in one of those little, hidden forest glades which seem to be entirely open, but are really screened in on all sides. There was very little room in it, scarcely enough for him and his mother.
Nó chào đời ngay giữa bụi rậm, ở một trong những khoảng trống nhỏ khuất nẻo giữa rừng, trông thì tưởng trống trải hoàn toàn, nhưng thật ra bốn bề đều được che kín. Nơi ấy chật hẹp vô cùng, hầu như chỉ vừa đủ chỗ cho nó và hươu mẹ.
He stood there, swaying unsteadily on his thin legs and staring vaguely in front of him with clouded eyes which saw nothing. He hung his head, trembled a great deal, and was still completely stunned.
Nó đứng đó, lảo đảo không vững trên đôi chân khẳng khiu, đôi mắt đục mờ chưa thấy gì nhìn bâng quơ ra trước mặt. Nó gục đầu, run bần bật, vẫn còn choáng váng cả người.
“What a beautiful child,” cried the magpie.
“Một đứa bé mới đẹp làm sao!” cô ác là kêu lên.
She had flown past, attracted by the deep groans the mother uttered in her labor. The magpie perched on a neighboring branch. “What a beautiful child,” she kept repeating. Receiving no answer, she went on talkatively, “How amazing to think that he should be able to get right up and walk! How interesting! I’ve never seen the like of it before in all my born days. Of course, I’m still young, only a year out of the nest, you might say. But I think it’s wonderful. A child like that, hardly a minute in this world, and beginning to walk already! I call that remarkable. Really, I find that everything you deer do is remarkable. Can he run, too?”
Cô đang bay ngang qua thì nghe những tiếng rên trầm hươu mẹ bật ra trong cơn trở dạ, liền tạt vào. Cô ác là đậu trên một cành cây gần đó. “Một đứa bé mới đẹp làm sao!” cô nhắc đi nhắc lại. Không thấy ai đáp lời, cô liến thoắng nói tiếp: “Cứ nghĩ mà xem, nó đứng ngay dậy được rồi bước đi luôn, kỳ diệu quá! Thú vị thật đấy! Cả đời tôi chưa từng thấy chuyện nào như thế bao giờ. Dĩ nhiên là tôi còn trẻ, có thể nói mới ra ràng được một năm thôi. Nhưng tôi thấy chuyện này thật tuyệt vời. Một đứa bé như thế, vừa ra đời chưa đầy một phút mà đã bắt đầu đi được rồi! Tôi thấy thật phi thường. Quả thật, tôi thấy mọi điều nhà hươu các chị làm đều phi thường cả. Nó đã chạy được chưa chị?”
“Of course,” replied the mother softly. “But you must pardon me if I don’t talk with you now. I have so much to do, and I still feel a little faint.”
“Dĩ nhiên rồi,” hươu mẹ khẽ đáp. “Nhưng cô thứ lỗi, lúc này tôi không tiếp chuyện cô được. Tôi còn bao nhiêu việc phải làm, vả lại tôi vẫn còn thấy hơi lả người.”
“Don’t put yourself out on my account,” said the magpie. “I have very little time myself. But you don’t see a sight like this every day. Think what a care and bother such things mean to us. The children can’t stir once they are out of the egg but lie helpless in the nest and require an attention, an attention, I repeat, of which you simply can’t have any comprehension. What a labor it is to feed them, what a trouble to watch them. Just think for a moment what a strain it is to hunt food for the children and to have to be eternally on guard lest something happen to them. They are helpless if you are not with them. Isn’t it the truth? And how long it is before they can move, how long it is before they get their feathers and look like anything at all.”
“Chị đừng bận tâm vì tôi,” cô ác là nói. “Tôi cũng chẳng có mấy thì giờ đâu. Nhưng đâu phải ngày nào người ta cũng thấy được một cảnh tượng như thế này. Chị cứ nghĩ xem, với loài chúng tôi, chuyện này lo toan phiền hà biết bao nhiêu. Lũ con non vừa chui ra khỏi trứng là chẳng nhúc nhích nổi, cứ nằm bất lực trong tổ và đòi hỏi một sự chăm sóc, sự chăm sóc, tôi nhắc lại, mà chị không tài nào hình dung nổi đâu. Mớm cho chúng ăn mới vất vả làm sao, canh chừng chúng mới khổ sở làm sao. Chị cứ thử nghĩ một chút xem, đi kiếm mồi cho lũ trẻ nhọc nhằn dường nào, lại còn phải nơm nớp canh chừng suốt ngày đêm kẻo có chuyện gì xảy ra với chúng. Không có mình ở bên là chúng chẳng tự xoay xở được gì. Chẳng phải thế sao? Rồi còn phải mất bao nhiêu lâu chúng mới nhúc nhích được, bao nhiêu lâu mới mọc lông cánh và trông ra hồn một chút chứ.”
“Pardon,” replied the mother, “I wasn’t listening.”
“Xin lỗi cô,” hươu mẹ đáp, “tôi không để ý nghe.”
The magpie flew off. “A stupid soul,” she thought to herself, “very nice, but stupid.”
Cô ác là bay đi. “Một kẻ ngốc,” cô thầm nghĩ, “rất dễ mến, nhưng ngốc.”
The mother scarcely noticed that she was gone. She continued zealously washing her newly-born. She washed him with her tongue, fondling and caressing his body in a sort of warm massage.
Hươu mẹ hầu như chẳng để ý là cô ác là đã đi mất. Mẹ tiếp tục mải miết liếm rửa cho đứa con mới chào đời. Mẹ dùng lưỡi tắm cho nó, âu yếm vuốt ve khắp mình mẩy nó, như đang xoa bóp cho nó ấm người.
The slight thing staggered a little. Under the strokes of her tongue, which softly touched him here and there, he drew himself together and stood still. His little red coat, that was still somewhat tousled, bore fine white spots, and on his vague baby face there was still a deep, sleepy expression.
Tấm thân nhỏ mảnh dẻ ấy lảo đảo đôi chút. Dưới những cái liếm khẽ khàng chạm vào chỗ này chỗ kia, nó thu mình lại rồi đứng yên. Bộ lông đỏ nhỏ của nó hãy còn hơi bù xù, lấm tấm những đốm trắng nhỏ, và trên gương mặt non nớt ngơ ngác vẫn còn vương đậm nét ngái ngủ.
Round about grew hazel bushes, dogwoods, blackthorns and young elders. Tall maples, beeches and oaks wove a green roof over the thicket and from the firm, dark-brown earth sprang fern fronds, wood-vetch and sage. Underneath, the leaves of the violets, which had already bloomed, and of the strawberries, which were just beginning, clung to the ground. Through the thick foliage, the early sunlight filtered in a golden web. The whole forest resounded with myriad voices, was penetrated by them in a joyous agitation. The wood-thrush rejoiced incessantly, the doves cooed without stopping, the blackbirds whistled, finches warbled, the titmice chirped. Through the midst of these songs the jay flew, uttering its quarrelsome cry, the magpie mocked them, and the pheasants cackled loud and high. At times the shrill exulting of a woodpecker rose above all the other voices. The call of the falcon shrilled, light and piercing, over the treetops, and the hoarse crow chorus was heard continuously.
Chung quanh mọc những bụi phỉ, sơn thù du, mận gai và những cây cơm cháy non. Những cây phong, dẻ gai và sồi cao vút dệt nên một vòm mái xanh ngắt bên trên bụi rậm, và từ mặt đất nâu sẫm rắn chắc vươn lên những tàu dương xỉ, đậu tằm dại và xô thơm. Bên dưới, lá hoa violet đã nở xong và lá dâu tây dại vừa chớm hoa bám sát mặt đất. Nắng sớm xuyên qua tán lá rậm rạp, rây xuống thành một tấm lưới vàng óng. Cả khu rừng vang rộn muôn vàn tiếng nói, tiếng ấy thấm khắp rừng, xôn xao trong một niềm náo nức hân hoan. Chim hét rừng hoan ca không dứt, bồ câu gù liên miên, sáo đen huýt sáo, sẻ đồng véo von, lũ chim bạc má ríu rít. Giữa những khúc ca ấy, giẻ cùi bay vút qua, cất tiếng kêu gây gổ, ác là giễu cợt chúng, còn lũ gà lôi quang quác inh ỏi vút cao. Thỉnh thoảng tiếng reo lảnh lót đắc thắng của một con gõ kiến vút lên át mọi thanh âm khác. Tiếng chim cắt rít lên lanh lảnh, sắc nhọn trên ngọn cây, và dàn đồng ca khàn đặc của bầy quạ vọng lại không ngừng.
The little fawn understood not one of the many songs and calls, not a word of the conversations. He did not even listen to them. Nor did he heed any of the odors which blew through the woods. He only heard the soft licking against his coat that washed him and warmed him and kissed him. And he smelled nothing but his mother’s body near him. She smelled good to him and, snuggling closer to her, he hunted eagerly around and found nourishment for his life.
Con hươu nhỏ chẳng hiểu nổi một bài ca hay tiếng gọi nào trong muôn vàn âm thanh ấy, chẳng hiểu một lời nào trong những cuộc chuyện trò. Nó thậm chí còn không buồn lắng nghe. Nó cũng chẳng bận tâm đến những mùi hương đang thoang thoảng bay khắp cánh rừng. Nó chỉ nghe tiếng lưỡi mẹ liếm khe khẽ trên bộ lông, liếm như tắm cho nó, sưởi ấm nó và hôn nó. Và nó chẳng ngửi thấy mùi gì ngoài cơ thể mẹ ở ngay bên. Nó thấy mùi mẹ thật dễ chịu, bèn rúc sát vào mẹ hơn, háo hức sục sạo quanh mình rồi tìm được nguồn nuôi sống đời mình.
While he suckled, the mother continued to caress her little one. “Bambi,” she whispered. Every little while she raised her head and, listening, snuffed the wind. Then she kissed her fawn again, reassured and happy.
Trong lúc nó bú, hươu mẹ vẫn âu yếm đứa con nhỏ. “Bambi,” mẹ thì thào. Cứ chốc chốc, mẹ lại ngẩng đầu lên lắng nghe và đánh hơi trong gió. Rồi mẹ lại hôn hươu con, lòng yên tâm và hạnh phúc.
“Bambi,” she repeated. “My little Bambi.”
“Bambi,” mẹ lặp lại. “Bambi bé bỏng của mẹ.”
II
II
In early summer the trees stood still under the blue sky, held their limbs outstretched and received the direct rays of the sun. On the shrubs and bushes in the undergrowth, the flowers unfolded their red, white and yellow stars. On some the seed pods had begun to appear again. They perched innumerable on the fine tips of the branches, tender and firm and resolute, and seemed like small, clenched fists. Out of the earth came whole troops of flowers, like motley stars, so that the soil of the twilit forest floor shone with a silent, ardent, colorful gladness. Everything smelled of fresh leaves, of blossoms, of moist clods and green wood. When morning broke, or when the sun went down, the whole woods resounded with a thousand voices, and from morning till night, the bees hummed, the wasps droned, and filled the fragrant stillness with their murmur.
Vào đầu hè, cây cối đứng lặng dưới vòm trời xanh, dang rộng cành nhánh đón lấy những tia nắng rọi thẳng của mặt trời. Trên những lùm cây, bụi cây dưới tán rừng, hoa bung nở những vì sao sắc đỏ, trắng và vàng. Trên vài cây, quả non đã lại bắt đầu nhú ra. Chúng đậu đếm không xuể trên những đầu cành thanh mảnh, non nớt mà vững vàng và quả quyết, nom như những nắm tay tí hon siết chặt. Từ lòng đất trồi lên cả từng đoàn hoa như những vì sao muôn màu, khiến nền rừng mờ tối bừng sáng một niềm vui lặng lẽ, nồng nàn và rực rỡ sắc màu. Đâu đâu cũng thơm mùi lá tươi, mùi hoa, mùi những hòn đất ẩm và mùi cành xanh. Khi ban mai ló rạng, hay lúc hoàng hôn buông xuống, cả cánh rừng lại vang rộn ngàn muôn thanh âm, và từ sáng đến tối, đàn ong rù rì, bầy ong bắp cày vo ve, lấp đầy cõi tĩnh lặng ngát hương bằng tiếng ngân nga của chúng.
These were the earliest days of Bambi’s life. He walked behind his mother on a narrow track that ran through the midst of the bushes. How pleasant it was to walk there. The thick foliage stroked his flanks softly and bent supplely aside. The track appeared to be barred and obstructed in a dozen places and yet they advanced with the greatest ease. There were tracks like this everywhere, running crisscross through the whole woods. His mother knew them all, and if Bambi sometimes stopped before a bush as if it were an impenetrable green wall, she always found where the path went through, without hesitation or searching.
Đó là những ngày đầu tiên trong cuộc đời Bambi. Nó đi theo sau mẹ trên một lối mòn nhỏ hẹp chạy xuyên qua giữa những bụi cây. Đi ở đấy thật dễ chịu biết bao. Tán lá rậm rạp khẽ vuốt ve hai bên sườn nó rồi mềm mại né sang bên. Lối đi trông như bị chặn, bị lấp ở cả chục chỗ, vậy mà hai mẹ con vẫn tiến bước hết sức dễ dàng. Khắp nơi đều có những lối đi như thế, đan chéo chằng chịt khắp cả cánh rừng. Mẹ nó biết hết tất cả những lối ấy, và nếu đôi khi Bambi dừng lại trước một bụi cây ngỡ như một bức tường xanh không thể xuyên qua, mẹ bao giờ cũng tìm ra chỗ lối mòn len qua, chẳng chút ngập ngừng, chẳng phải kiếm tìm.
Bambi questioned her. He loved to ask his mother questions. It was the pleasantest thing for him to ask a question and then to hear what answer his mother would give. Bambi was never surprised that question after question should come into his mind continually and without effort. He found it perfectly natural, and it delighted him very much. It was very delightful, too, to wait expectantly till the answer came. If it turned out the way he wanted, he was satisfied. Sometimes of course, he did not understand, but that was pleasant also because he was kept busy picturing what he had not understood, in his own way. Sometimes he felt very sure that his mother was not giving him a complete answer, was intentionally not telling him all she knew. And, at first, that was very pleasant, too. For then there would remain in him such a lively curiosity, such suspicion, mysteriously and joyously flashing through him, such anticipation, that he would become anxious and happy at the same time, and grow silent.
Bambi hỏi mẹ. Nó rất thích hỏi mẹ. Điều thú vị nhất đối với nó là đặt ra một câu hỏi rồi lắng nghe xem mẹ sẽ trả lời ra sao. Bambi chẳng bao giờ lấy làm lạ khi hết câu hỏi này đến câu hỏi khác cứ tự nhiên tuôn ra trong đầu mình không ngừng nghỉ. Nó thấy điều đó hoàn toàn tự nhiên, và nó thích thú vô cùng. Chờ đợi trong háo hức cho đến khi có câu trả lời cũng là một điều vô cùng thú vị. Nếu câu trả lời đúng như ý nó muốn, nó sẽ thấy thỏa mãn. Dĩ nhiên thỉnh thoảng nó chẳng hiểu gì, nhưng điều đó cũng thật thú vị vì nó lại bận rộn hình dung những gì mình chưa hiểu theo cách riêng của nó. Đôi lúc nó cảm thấy rất chắc chắn rằng mẹ không trả lời đầy đủ, mẹ cố tình không kể hết những gì mẹ biết. Và thoạt đầu, điều đó cũng thật thú vị. Bởi khi ấy, trong lòng nó sẽ còn đọng lại biết bao tò mò rộn rã, biết bao ngờ ngợ cứ lóe lên, bí ẩn mà hân hoan, biết bao mong chờ, đến nỗi nó vừa hồi hộp lại vừa sung sướng, rồi lặng thinh.
Once he asked, “Whom does this trail belong to, Mother?”
Có lần nó hỏi: “Lối mòn này là của ai hả mẹ?”
His mother answered, “To us.”
Mẹ nó đáp: “Của chúng ta.”
Bambi asked again, “To you and me?”
Bambi lại hỏi: “Của mẹ với con ạ?”
“Yes.”
“Ừ.”
“To us two?”
“Của hai mẹ con mình ạ?”
“Yes.”
“Ừ.”
“Only to us two?”
“Chỉ hai mẹ con mình thôi sao mẹ?”
“No,” said his mother, “to us deer.”
“Không,” mẹ nó bảo, “của loài hươu chúng ta.”
“What are deer?” Bambi asked, and laughed.
“Hươu là gì hả mẹ?” Bambi hỏi rồi cười.
His mother looked at him from head to foot and laughed too. “You are a deer and I am a deer. We’re both deer,” she said. “Do you understand?”
Mẹ nhìn nó từ đầu đến chân rồi cũng bật cười. “Con là hươu và mẹ là hươu. Cả hai mẹ con mình đều là hươu,” mẹ bảo. “Con hiểu chưa?”
Bambi sprang into the air for joy. “Yes, I understand,” he said. “I’m a little deer and you’re a big deer, aren’t you?”
Bambi nhảy cẫng lên vì vui sướng. “Vâng, con hiểu rồi,” nó nói. “Con là hươu nhỏ còn mẹ là hươu lớn, phải không mẹ?”
His mother nodded and said, “Now you see.”
Mẹ gật đầu bảo: “Đấy, con thấy chưa.”
But Bambi grew serious again. “Are there other deer besides you and me?” he asked.
Nhưng Bambi lại nghiêm nét mặt. “Thế ngoài mẹ với con ra còn có những con hươu khác nữa không ạ?” nó hỏi.
“Certainly,” his mother said. “Many of them.”
“Có chứ,” mẹ nó nói. “Nhiều lắm.”
“Where are they?” cried Bambi.
“Ở đâu?” Bambi kêu lên.
“Here, everywhere.”
“Ở đây, khắp mọi nơi.”
“But I don’t see them.”
“Nhưng con có thấy đâu.”
“You will soon,” she said.
“Rồi con sẽ thấy sớm thôi,” mẹ bảo.
“When?” Bambi stood still, wild with curiosity.
“Bao giờ cơ ạ?” Bambi đứng khựng lại, tò mò đến cuống cuồng.
“Soon.” The mother walked on quietly. Bambi followed her. He kept silent for he was wondering what “soon” might mean. He came to the conclusion that “soon” was certainly not “now.” But he wasn’t sure at what time “soon” stopped being “soon” and began to be a “long while.” Suddenly he asked, “Who made this trail?”
“Sớm thôi.” Mẹ lẳng lặng bước tiếp. Bambi đi theo sau mẹ. Nó im lặng vì đang tự hỏi “sớm thôi” có nghĩa là gì. Nó đi đến kết luận rằng “sớm thôi” chắc chắn không phải là “bây giờ”. Nhưng nó không chắc đến lúc nào thì “sớm thôi” hết là “sớm thôi” mà bắt đầu thành “lâu lắm”. Bỗng nhiên nó hỏi: “Ai đã làm ra lối mòn này hả mẹ?”
“We,” his mother answered.
“Chúng ta,” mẹ nó đáp.
Bambi was astonished. “We? You and I?”
Bambi ngạc nhiên: “Chúng ta? Mẹ với con ấy ạ?”
The mother said, “We, we … we deer.”
Mẹ bảo: “Chúng ta, chúng ta… loài hươu chúng ta.”
Bambi asked, “Which deer?”
Bambi hỏi: “Những con hươu nào ạ?”
“All of us,” his mother said sharply.
“Tất cả chúng ta,” mẹ nó gắt.
They walked on. Bambi was in high spirits and felt like leaping off the path, but he stayed close to his mother. Something rustled in front of them, close to the ground. The fern fronds and wood-lettuce concealed something that advanced in violent motion. A threadlike, little cry shrilled out piteously; then all was still. Only the leaves and the blades of grass shivered back into place. A ferret had caught a mouse. He came slinking by, slid sideways, and prepared to enjoy his meal.
Hai mẹ con bước tiếp. Bambi đang rất phấn chấn, chỉ muốn nhảy tót ra khỏi lối mòn, nhưng nó vẫn bám sát bên mẹ. Có cái gì đó sột soạt ngay trước mặt hai mẹ con, sát mặt đất. Những tàu dương xỉ và đám rau diếp dại che khuất một vật gì đó đang chuyển động dữ dội. Một tiếng kêu le te, mảnh như sợi chỉ rít lên thảm thiết; rồi mọi sự lại im bặt. Chỉ có những chiếc lá và ngọn cỏ khẽ rùng mình trở lại chỗ cũ. Một con chồn sương vừa bắt được một con chuột. Nó lén lút lủi qua, trườn sang bên rồi sửa soạn thưởng thức bữa ăn của mình.
“What was that?” asked Bambi excitedly.
“Cái gì thế hả mẹ?” Bambi cuống quýt hỏi.
“Nothing,” his mother soothed him.
“Không có gì đâu,” mẹ nó vỗ về.
“But,” Bambi trembled, “but I saw it.”
“Nhưng mà,” Bambi run rẩy, “nhưng con nhìn thấy mà.”
“Yes, yes,” said his mother. “Don’t be frightened. The ferret has killed a mouse.” But Bambi was dreadfully frightened. A vast, unknown horror clutched at his heart. It was long before he could speak again. Then he asked, “Why did he kill the mouse?”
“Ừ, ừ,” mẹ nó bảo. “Đừng sợ. Con chồn sương vừa giết một con chuột.” Nhưng Bambi sợ hãi khôn cùng. Một nỗi kinh hoàng mênh mông, xa lạ thắt nghẹt lấy tim nó. Mãi một lúc lâu sau nó mới nói lại được. Rồi nó hỏi: “Sao nó lại giết con chuột hả mẹ?”
“Because,” his mother hesitated. “Let us walk faster,” she said as though something had just occurred to her and as though she had forgotten the question. She began to hurry. Bambi sprang after her.
“Bởi vì,” mẹ nó ngập ngừng. “Hai mẹ con mình đi nhanh lên nào,” mẹ nói như thể vừa sực nhớ ra điều gì và như thể đã quên bẵng câu hỏi. Mẹ rảo bước vội vã. Bambi nhảy chồm theo sau.
A long pause ensued. They walked on quietly again. Finally Bambi asked anxiously, “Shall we kill a mouse, too, sometime?”
Rồi một hồi lâu không ai nói gì. Hai mẹ con lại lặng lẽ bước đi. Cuối cùng Bambi bồn chồn hỏi: “Sau này có khi nào mẹ con mình cũng giết một con chuột không ạ?”
“No,” replied his mother.
“Không,” mẹ nó đáp.
“Never?” asked Bambi.
“Không bao giờ?” Bambi hỏi.
“Never,” came the answer.
“Không bao giờ,” có tiếng đáp.
“Why not?” asked Bambi, relieved.
“Sao lại thế ạ?” Bambi hỏi, lòng nhẹ nhõm.
“Because we never kill anything,” said his mother simply.
“Vì chúng ta không bao giờ giết hại bất cứ thứ gì,” mẹ nó đáp giản dị.
Bambi grew happy again.
Bambi lại thấy vui vẻ.
Loud cries were coming from a young ash tree which stood near their path. The mother went along without noticing them, but Bambi stopped inquisitively. Overhead two jays were quarreling about a nest they had plundered.
Những tiếng la hét ầm ĩ phát ra từ một cây tần bì non đứng gần lối đi của hai mẹ con. Mẹ cứ thế bước tiếp mà chẳng buồn để ý, nhưng Bambi tò mò dừng lại. Trên đầu nó, hai con giẻ cùi đang cãi nhau chí chóe về một cái tổ chim mà chúng vừa cướp phá.
“Get away, you murderer!” cried one.
“Cút xéo đi, đồ sát nhân!” một con gào lên.
“Keep cool, you fool,” the other answered, “I’m not afraid of you.”
“Bớt nóng đi, đồ ngu si,” con kia đáp trả, “tao chẳng sợ mày đâu.”
“Look for your own nests,” the first one shouted, “or I’ll break your head for you.” He was beside himself with rage. “What vulgarity!” he chattered, “what vulgarity!”
“Tự đi mà tìm tổ của mày,” con thứ nhất hét lên, “không tao đập vỡ đầu mày ra.” Nó giận sôi lên sùng sục. “Thô bỉ quá!” nó liến thoắng, “thô bỉ quá!”
The other jay had spied Bambi and fluttered down a few branches to shout at him. “What are you gawking at, you freak?” he screamed.
Con giẻ cùi kia đã nhác thấy Bambi liền đập cánh sà xuống mấy cành cây phía dưới để hét vào mặt nó. “Mày trố mắt nhìn cái gì đấy, đồ dị hợm?” nó rít lên the thé.
Bambi sprang away terrified. He reached his mother and walked behind her again, frightened and obedient, thinking she had not noticed his absence.
Bambi hoảng hốt nhảy vọt đi. Nó đuổi kịp mẹ rồi lại lẽo đẽo đi theo sau, vừa sợ hãi vừa ngoan ngoãn, đinh ninh rằng mẹ không hề nhận ra nó vừa tụt lại phía sau.
Đọc tiếp phần còn lại của chương II trong app Open Book
Cả cuốn miễn phí trong app. Trong app có thêm:
- chạm vào từ để xem nghĩa ngay trong câu;
- nghe đọc to, chữ sáng lên theo giọng đọc;
- sổ từ với lịch ôn;
- đọc cả cuốn, nhớ chỗ đang đọc trên mọi máy của bạn.
Nguyên tác: Felix Salten (1923); bản tiếng Anh của Whittaker Chambers (1928), đã thuộc phạm vi công cộng. Bản dịch tiếng Việt: Open Book.
Hết bảo hộ ở Mỹ và Việt Nam. Chữ: Felix Salten (mất 1945); bản tiếng Anh của Whittaker Chambers (mất 1961), in năm 1928. Tranh: Kurt Wiese (mất 1974); từ Bambi (1928).